Quy trình chấm dứt hợp đồng lao động năm 2026 theo Nghị định 145
1. Thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Theo Điều 7 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, một số ngành, nghề, công việc đặc thù có thời hạn báo trước riêng khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động thuộc nhóm này.
Ngành, nghề, công việc đặc thù
Các ngành, nghề, công việc đặc thù bao gồm:
- Thành viên tổ lái tàu bay; nhân viên kỹ thuật bảo dưỡng tàu bay, nhân viên sửa chữa chuyên ngành hàng không; nhân viên điều độ, khai thác bay.
- Người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 và Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.
- Thuyền viên thuộc thuyền bộ làm việc trên tàu Việt Nam đang hoạt động ở nước ngoài; thuyền viên được doanh nghiệp Việt Nam cho thuê lại làm việc trên tàu biển nước ngoài.
- Các trường hợp khác do pháp luật quy định.
Thời hạn báo trước áp dụng
Theo khoản 2 Điều 7 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, thời hạn báo trước đối với người lao động làm công việc đặc thù được xác định như sau:
- Ít nhất 120 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên.
- Ít nhất bằng một phần tư thời hạn hợp đồng lao động đối với hợp đồng lao động có thời hạn dưới 12 tháng.
2. Quy định về trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm
Theo Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm khi người lao động đáp ứng điều kiện theo quy định của Bộ luật Lao động 2019.
Trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc
Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 đối với người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, khi hợp đồng lao động chấm dứt theo các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 Bộ luật Lao động 2019.
Tuy nhiên, người lao động không thuộc diện được chi trả trợ cấp thôi việc trong hai trường hợp:
- Đủ điều kiện hưởng lương hưu theo Điều 169 Bộ luật Lao động 2019 và pháp luật về bảo hiểm xã hội.
- Tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng từ 5 ngày làm việc liên tục trở lên theo điểm e khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019. Việc xác định lý do chính đáng thực hiện theo khoản 4 Điều 125 của Bộ luật này.
Trường hợp được hưởng trợ cấp mất việc làm
Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm theo Điều 47 Bộ luật Lao động 2019 cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên và bị mất việc làm theo khoản 11 Điều 34 của Bộ luật này.
Nếu người lao động có thời gian làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên nhưng thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm dưới 24 tháng, người sử dụng lao động phải chi trả trợ cấp ít nhất bằng 2 tháng tiền lương.

Quy trình chấm dứt hợp đồng lao động năm 2026 theo Nghị định 145. Ảnh minh họa
3. Cách xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp
Theo khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm được xác định bằng tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động, trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
Thời gian làm việc thực tế
Thời gian làm việc thực tế bao gồm:
- Thời gian trực tiếp làm việc và thời gian thử việc.
- Thời gian được người sử dụng lao động cử đi học.
- Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo pháp luật về bảo hiểm xã hội.
- Thời gian nghỉ để điều trị, phục hồi chức năng lao động do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được trả lương theo quy định.
- Thời gian nghỉ thực hiện nghĩa vụ công dân mà được trả lương.
- Thời gian ngừng việc không do lỗi của người lao động.
- Thời gian nghỉ hằng tuần, nghỉ lễ, Tết, nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng hưởng nguyên lương theo các quy định được viện dẫn tại Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
- Thời gian thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đại diện người lao động theo khoản 2, khoản 3 Điều 176 Bộ luật Lao động 2019 và thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo Điều 128 của Bộ luật này.
Thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp còn bao gồm thời gian người lao động thuộc diện không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhưng được người sử dụng lao động trả cùng tiền lương một khoản tiền tương đương mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định.
Cách tính tháng lẻ
Thời gian làm việc để tính trợ cấp được tính theo năm, với một năm tương ứng 12 tháng. Trường hợp có tháng lẻ:
- Từ đủ 1 tháng đến 6 tháng được tính bằng nửa năm.
- Trên 6 tháng được tính bằng một năm.
4. Xác định thời gian làm việc trong một số trường hợp đặc biệt
Khoản 4 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định việc xác định thời gian làm việc thực tế trong một số trường hợp đặc biệt.
Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoặc doanh nghiệp cổ phần hóa từ doanh nghiệp nhà nước: Khi người lao động chuyển đến làm việc trước ngày 1/1/1995 từ cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước mà chưa nhận các khoản trợ cấp theo quy định, người sử dụng lao động có trách nhiệm tính cả thời gian làm việc thực tế tại doanh nghiệp và thời gian làm việc thực tế trước đó ở khu vực nhà nước.
Đối với người lao động làm việc theo nhiều hợp đồng lao động kế tiếp nhau: Nếu chưa được chi trả trợ cấp khi chấm dứt từng hợp đồng, thời gian làm việc thực tế được xác định theo tổng thời gian làm việc theo các hợp đồng, sau khi trừ những khoảng thời gian thuộc trường hợp loại trừ theo quy định tại khoản 4 Điều 8.
Đối với doanh nghiệp có thay đổi về tổ chức hoặc sở hữu: Khi người lao động tiếp tục làm việc theo phương án sử dụng lao động sau khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, thời gian làm việc để tính trợ cấp được xác định theo từng trường hợp chấm dứt hợp đồng và quy định tại điểm c khoản 4 Điều 8.
5. Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp
Theo khoản 5 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân của 6 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc hoặc mất việc làm.
Trường hợp người lao động làm việc theo nhiều hợp đồng lao động kế tiếp nhau, tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp là tiền lương bình quân của 6 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi chấm dứt hợp đồng cuối cùng.
Nếu hợp đồng lao động cuối cùng bị tuyên bố vô hiệu do có mức lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng hoặc mức lương ghi trong thỏa ước lao động tập thể, tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức tương ứng theo quy định.
6. Kinh phí chi trả trợ cấp
Theo khoản 6 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho người lao động được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh hoặc kinh phí hoạt động của người sử dụng lao động.
Như vậy, Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn các nội dung quan trọng liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng lao động, từ thời hạn báo trước đối với công việc đặc thù đến điều kiện hưởng trợ cấp, cách xác định thời gian làm việc và tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp. Người lao động và người sử dụng lao động cần đối chiếu từng trường hợp cụ thể với Bộ luật Lao động 2019 và các quy định liên quan để thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình.