Người sử dụng lao động có quyền và nghĩa vụ gì trong công tác an toàn, vệ sinh lao động?
1. Quyền của người sử dụng lao động trong công tác an toàn, vệ sinh lao động
Căn cứ khoản 1 Điều 7 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động có các quyền sau đây:
-
Yêu cầu người lao động chấp hành quy định về an toàn, vệ sinh lao động: Người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động thực hiện đúng nội quy, quy trình và biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
-
Khen thưởng và xử lý kỷ luật: Khen thưởng người lao động chấp hành tốt, đồng thời kỷ luật người lao động vi phạm trong việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động theo quy định.
-
Thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện: Người sử dụng lao động có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật.
-
Huy động người lao động ứng cứu khẩn cấp: Được huy động người lao động tham gia ứng cứu khẩn cấp, khắc phục sự cố và tai nạn lao động.

Người sử dụng lao động có quyền và nghĩa vụ gì trong công tác an toàn, vệ sinh lao động. Ảnh: laodong.vn
2. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong công tác an toàn, vệ sinh lao động
Theo khoản 2 Điều 7 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động có các nghĩa vụ sau đây:
Thứ nhất, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
Người sử dụng lao động phải xây dựng, tổ chức thực hiện và chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức để bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc thuộc phạm vi trách nhiệm của mình cho người lao động và những người có liên quan. Đồng thời, phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Thứ hai, tổ chức huấn luyện và trang bị phương tiện bảo đảm an toàn.
Người sử dụng lao động phải tổ chức huấn luyện, hướng dẫn về các quy định, nội quy, quy trình và biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; trang bị đầy đủ phương tiện, công cụ lao động bảo đảm an toàn. Bên cạnh đó, phải thực hiện chăm sóc sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp và bảo đảm đầy đủ chế độ đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Thứ ba, không buộc người lao động làm việc trong điều kiện nguy hiểm nghiêm trọng.
Người sử dụng lao động không được buộc người lao động tiếp tục làm công việc hoặc trở lại nơi làm việc khi có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của người lao động.
Thứ tư, giám sát việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động.
Người sử dụng lao động phải cử người giám sát, kiểm tra việc thực hiện nội quy, quy trình và biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc theo quy định của pháp luật.
Thứ năm, bố trí nhân sự phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động.
Người sử dụng lao động phải bố trí bộ phận hoặc người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động; phối hợp với Ban chấp hành công đoàn cơ sở thành lập mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; đồng thời phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động.
Thứ sáu, thực hiện khai báo, điều tra, thống kê và báo cáo.
Người sử dụng lao động phải khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng; thống kê, báo cáo tình hình thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động và chấp hành quyết định của thanh tra chuyên ngành về an toàn, vệ sinh lao động.
Thứ bảy, lấy ý kiến tổ chức công đoàn khi xây dựng các quy định về an toàn, vệ sinh lao động.
Khi xây dựng kế hoạch, nội quy, quy trình và biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, người sử dụng lao động phải lấy ý kiến Ban chấp hành công đoàn cơ sở.
Như vậy, người sử dụng lao động vừa có quyền yêu cầu người lao động tuân thủ các quy định về an toàn, vệ sinh lao động, vừa có trách nhiệm tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro, bảo vệ sức khỏe và bảo đảm quyền lợi của người lao động theo quy định pháp luật.