24 ngách 20/5 ngõ 20 Nguyễn Chánh, Phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội
Lương & Phúc lợi 12/10/2026 14:01 19 lượt xem

Khấu trừ tiền lương người lao động phải tuân thủ quy định nào?

Người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương để bồi thường thiệt hại trong những trường hợp luật định. Mức khấu trừ hằng tháng không được vượt quá 30% tiền lương thực trả của người lao động sau khi trừ các khoản bắt buộc.

Quy định về khấu trừ tiền lương người lao động

Căn cứ Điều 102 Bộ luật Lao động 2019, việc khấu trừ tiền lương của người lao động phải đáp ứng các điều kiện cụ thể nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

Theo đó, người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương để bồi thường thiệt hại do người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Lao động 2019.

Người lao động có quyền được biết lý do khấu trừ tiền lương của mình. Đồng thời, mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được vượt quá 30% tiền lương thực trả sau khi đã trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.

Như vậy, người sử dụng lao động cần tuân thủ đúng căn cứ và giới hạn khấu trừ theo quy định pháp luật, đồng thời thông tin rõ lý do khấu trừ để người lao động nắm được quyền lợi của mình.

Khấu trừ tiền lương người lao động phải tuân thủ quy định, Ảnh minh họa 

Chính sách của Nhà nước về lao động gồm những gì?

Theo Điều 4 Bộ luật Lao động 2019, chính sách của Nhà nước về lao động bao gồm 7 nội dung cơ bản.

Thứ nhất, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động và người làm việc không có quan hệ lao động; khuyến khích các thỏa thuận tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật về lao động.

Thứ hai, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động; quản lý lao động đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm xã hội.

Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tạo việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm; khuyến khích hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động; áp dụng một số quy định của Bộ luật Lao động đối với người làm việc không có quan hệ lao động.

Thứ tư, xây dựng chính sách phát triển và phân bố nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và kỹ năng nghề cho người lao động; hỗ trợ duy trì, chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm; ưu đãi người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ năm, phát triển thị trường lao động, đa dạng hóa các hình thức kết nối cung và cầu lao động.

Thứ sáu, thúc đẩy người lao động và người sử dụng lao động đối thoại, thương lượng tập thể, xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.

Thứ bảy, bảo đảm bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, người lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi và lao động chưa thành niên.

Các chính sách này là cơ sở để Nhà nước bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ lao động, phát triển thị trường lao động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Chia sẻ bài viết:
Tin đã lưu
Góp ý