24 ngách 20/5 ngõ 20 Nguyễn Chánh, Phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội
Thị trường lao động 12/10/2026 13:33 18 lượt xem

7 nhóm hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động

Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 nghiêm cấm các hành vi như che giấu tai nạn lao động, trốn đóng bảo hiểm, sử dụng thiết bị không bảo đảm an toàn, gian lận trong kiểm định và huấn luyện, cũng như ép người lao động làm việc trong điều kiện nguy hiểm.

Các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động

Căn cứ Điều 12 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực này được quy định thành 7 nhóm như sau:

Thứ nhất, vi phạm quy định về khai báo tai nạn lao động và bảo đảm an toàn tại nơi làm việc. Các hành vi bị nghiêm cấm gồm che giấu, khai báo hoặc báo cáo sai sự thật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; không thực hiện yêu cầu, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hại đến con người, tài sản, môi trường. Đồng thời, nghiêm cấm việc buộc người lao động làm việc hoặc không được rời nơi làm việc khi có nguy cơ tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng sức khỏe, tính mạng, cũng như buộc họ tiếp tục làm việc khi nguy cơ chưa được khắc phục.

Thứ hai, vi phạm quy định về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Những hành vi bị cấm bao gồm trốn đóng, chậm đóng, chiếm dụng tiền đóng hoặc tiền hưởng bảo hiểm; gian lận, giả mạo hồ sơ; không chi trả chế độ bảo hiểm cho người lao động; quản lý, sử dụng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trái quy định; truy cập, khai thác trái pháp luật cơ sở dữ liệu về loại bảo hiểm này.

Thứ ba, sử dụng máy móc, thiết bị và vật tư không bảo đảm yêu cầu an toàn. Luật nghiêm cấm sử dụng máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động khi chưa được kiểm định, có kết quả kiểm định không đạt yêu cầu hoặc không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Các thiết bị, vật tư hết hạn sử dụng, không bảo đảm chất lượng hoặc gây ô nhiễm môi trường cũng thuộc nhóm bị cấm sử dụng theo quy định nêu trên.

Thứ tư, gian lận trong hoạt động chuyên môn và cản trở quyền lợi hợp pháp. Các hành vi bị nghiêm cấm gồm gian lận trong kiểm định, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, quan trắc môi trường lao động và giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Bên cạnh đó, việc cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng về an toàn, vệ sinh lao động của người lao động và người sử dụng lao động cũng bị nghiêm cấm.

Thứ năm, phân biệt đối xử trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động. Luật cấm phân biệt đối xử về giới trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; phân biệt đối xử với người lao động vì họ từ chối làm việc hoặc rời nơi làm việc khi nhận thấy rõ nguy cơ tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng, sức khỏe. Quy định cũng áp dụng với việc phân biệt đối xử vì lý do một người đã thực hiện công việc, nhiệm vụ bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở, bao gồm người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động, an toàn, vệ sinh viên và người làm công tác y tế.

Thứ sáu, sử dụng lao động chưa được huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động. Nghiêm cấm sử dụng người lao động hoặc bố trí họ làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động khi chưa được huấn luyện về lĩnh vực này.

Thứ bảy, trả tiền thay cho bồi dưỡng bằng hiện vật. Người sử dụng lao động không được dùng tiền để thay thế việc bồi dưỡng bằng hiện vật theo quy định.

7 nhóm hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động. Ảnh minh họa 

Người lao động và doanh nghiệp cần lưu ý

Các quy định trên đặt ra yêu cầu đối với cả người sử dụng lao động và những chủ thể có liên quan trong việc tuân thủ pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Doanh nghiệp cần chú trọng phòng ngừa rủi ro, bảo đảm thiết bị được kiểm định theo quy định, tổ chức huấn luyện cho người lao động và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hiểm.

Đặc biệt, khi xuất hiện nguy cơ tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng sức khỏe hoặc tính mạng, người lao động không được bị buộc tiếp tục làm việc khi nguy cơ chưa được khắc phục. Việc bảo đảm an toàn tại nơi làm việc cần được thực hiện thực chất, thay vì chỉ dừng ở nội quy hoặc thủ tục hành chính.

Căn cứ pháp lý: Điều 12 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015.

Chia sẻ bài viết:
Tin đã lưu
Góp ý