Hướng dẫn hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thanh niên
Đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động
Dự thảo Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn việc tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động ở khu vực nông thôn và người lao động là thanh niên theo Chương V Nghị định số 338/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ tạo việc làm.
Theo dự thảo, chính sách áp dụng đối với người lao động thuộc diện được hỗ trợ đào tạo nghề theo khoản 1 Điều 12 Luật Việc làm số 74/2025/QH15 và Chương V Nghị định số 338/2025/NĐ-CP. Các đơn vị liên quan gồm Sở Giáo dục và Đào tạo, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và những cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã, cá nhân tham gia tổ chức thực hiện chính sách.
Người lao động ở khu vực nông thôn được xác định là công dân Việt Nam có nhu cầu làm việc, học nghề và đang sinh sống, lao động tại các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh, thành phố. Đối với lao động là thanh niên, dự thảo đề cập đến thanh niên tình nguyện được cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp công nhận hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội và trí thức trẻ được công nhận hoàn thành nhiệm vụ tại khu kinh tế - quốc phòng.
Trình tự, thủ tục và hồ sơ đề nghị hỗ trợ đào tạo nghề được thực hiện theo Điều 28 Nghị định số 338/2025/NĐ-CP cùng hướng dẫn của các bộ, ngành liên quan.

Hướng dẫn hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thanh niên. Ảnh minh họa
Chương trình đào tạo phải phù hợp với nhu cầu việc làm
Dự thảo quy định cơ sở đào tạo chủ động xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chương trình cần đáp ứng chuẩn đào tạo, bảo đảm nội dung, thời lượng, khối lượng kiến thức, kỹ năng và chuẩn đầu ra phù hợp với từng ngành, nghề, đồng thời gắn với vị trí việc làm và nhu cầu sử dụng lao động tại địa phương.
Trước khi tuyển sinh và tổ chức đào tạo, cơ sở tham gia chính sách phải đăng ký thông tin chương trình vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành về giáo dục nghề nghiệp. Đơn vị đào tạo có trách nhiệm bảo đảm điều kiện về chương trình, nhà giáo, cơ sở vật chất và thiết bị theo quy định pháp luật.
Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với UBND cấp xã cùng các cơ quan, tổ chức liên quan khảo sát nhu cầu học nghề của người lao động, trình UBND cấp tỉnh phê duyệt danh mục ngành, nghề được hỗ trợ. Hoạt động khảo sát được thực hiện hằng năm, làm căn cứ điều chỉnh, bổ sung ngành, nghề đào tạo theo quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu thị trường lao động.
Dự thảo cũng định hướng ưu tiên những ngành, nghề góp phần giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn và phù hợp với định hướng phát triển sản xuất, kinh doanh tại địa phương. Các hình thức đào tạo lưu động, đào tạo tại doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc nơi sản xuất được khuyến khích áp dụng để phù hợp với điều kiện của người học, đồng thời tăng khả năng có việc làm sau đào tạo.
Người học hoàn thành chương trình và đáp ứng đủ điều kiện theo quy định sẽ được cấp chứng chỉ sơ cấp hoặc chứng chỉ đào tạo. Kết quả học tập và việc cấp chứng chỉ được cơ sở đào tạo cập nhật vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành về giáo dục nghề nghiệp.
Hỗ trợ đào tạo được xác định theo học phí thực tế
Theo dự thảo, mức hỗ trợ chi phí đào tạo được xác định căn cứ vào học phí thực tế của cơ sở đào tạo đối với khóa học mà người lao động tham gia. Cơ sở đào tạo phải công khai chi phí, mức thu học phí theo từng ngành, nghề và khóa học trước khi tuyển sinh; đồng thời bảo đảm hóa đơn, chứng từ phục vụ thanh toán, quyết toán kinh phí hỗ trợ.
Mức hỗ trợ dành cho mỗi người lao động không vượt quá mức trần quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 Nghị định số 338/2025/NĐ-CP. Nếu học phí thực tế thấp hơn hoặc bằng mức trần, mức hỗ trợ được xác định theo học phí thực tế. Trường hợp học phí cao hơn mức trần, khoản hỗ trợ bằng mức trần, phần chênh lệch do người học hoặc nguồn kinh phí hợp pháp khác chi trả, trừ trường hợp HĐND cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ cao hơn theo khoản 2 Điều 25 của Nghị định.
Đối với tiền ăn và sinh hoạt phí, thời gian hỗ trợ được tính theo số ngày thực học trong kế hoạch, tiến độ đào tạo của khóa học, không tính ngày nghỉ và ngày lễ. Số ngày được hỗ trợ không vượt quá thời gian thiết kế của chương trình. Nếu thời gian tổ chức đào tạo kéo dài hơn thiết kế, việc xác định số ngày hỗ trợ được quy đổi theo thời gian thiết kế.
Khoản hỗ trợ đi lại được xác định dựa trên định mức, điều kiện về cự ly và địa bàn theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 25 Nghị định số 338/2025/NĐ-CP, căn cứ vào nơi cư trú của người lao động và địa điểm đào tạo.
Phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện
Dự thảo giao Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên giúp Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát và tổng hợp tình hình thực hiện; đồng thời chủ trì xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh.
Sở Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm tham mưu UBND cấp tỉnh tổ chức thực hiện chính sách phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; theo dõi, kiểm tra, giám sát và thực hiện chế độ báo cáo. Các cơ sở đào tạo phải bảo đảm chất lượng chương trình, công khai mức thu, lưu trữ hồ sơ, chứng từ và phối hợp cung cấp thông tin phục vụ công tác kiểm tra, giám sát.
Theo dự thảo, trước ngày 5/12 hằng năm, Sở Giáo dục và Đào tạo báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo về kết quả hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động ở khu vực nông thôn và người lao động là thanh niên trên địa bàn.
Dự thảo cũng quy định chuyển tiếp đối với hồ sơ đã nộp trước ngày Thông tư có hiệu lực và các khóa đào tạo đã được phê duyệt, tổ chức trước thời điểm này. Theo đó, hồ sơ của thanh niên tình nguyện đã nộp trước ngày có hiệu lực tiếp tục được xem xét theo quy định pháp luật tại thời điểm nộp; các khóa đào tạo đã được phê duyệt và tổ chức trước đó tiếp tục thực hiện theo phương án được phê duyệt cho đến khi kết thúc.